Tính đa dạng sinh học. Sự phá vỡ tính đa dạng sinh học là một
xâm phạm lớn đến cân bằng sinh thái và kinh tế thế giới . Hệ sinh thái tạo ra
rất nhiều của cải cho con người cho nên sự phá vỡ tính đa dạng sinh học sẽ mang
đến những mất mát lớn cho ngành kinh tế. Trong các tác động của ngành chăn nuôi
lên hệ sinh thái, ta có thể kể:
-sử dụng đất, rút nước
từ các dòng sông làm thay đổi nơi cư trú của nhiều loại sinh vật
Tên thành phẩm
Lượng nước để sản xuất 1 kg (tính bằng lít)
Khoai tây
500
Lúa mì
900
Ngô (Bắp)
900
Đậu nành
2000
Thóc
3000
Gà
3900
Lợn (Heo)
4900
Bò
15.500
Hình 7
-biến đổi khí hậu, ô
nhiễm môi trưôøng có thể làm mất đi nhiều động, thực vật quý hiếm
-khai thác nước quá mức
cũng làm cho nhiều giống lạ thâm nhập vào nơi cư trú của các giống khác. Việc
phá rừng như ở Nam Mỹ tạo cơ hội cho nhiều giống tầm thường chiếm chỗ của những
loài quý hiếm.
Ngành chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm không khí. Ngành chăn nuôi phát thải nhiều chất khí gây ô
nhiễm ngoài những chất khí gây hiệu ứng nhà kính làm biến đổi khí hậu. Các độc
tố này được thải ra
-qua việc bón phân
trồng cây làm thức ăn gia súc
-trực tiếp từ các trại
chăn nuôi, các trại giết mổ, các cơ sở chế biến như thuộc da, chế biến thực
phẩm từ thịt
Trong việc trồng cây
làm thức ăn gia súc, người ta bón rất nhiều phân chuồng và phân hóa học. Các
khí độc thải ra gồm các oxit nitơ NOx, oxit nitrơ N2O, amôniac NH3…Không
khí bị ô nhiễm trên một diện tích lớn có thể ảnh hưởng đến sự hô hấp của người,
gây khó thở, cay mắt, tạo mùi khó chịu
Các oxit nitơ và
amôniac có thể theo gió bay xa hàng trăm kilômét và gặp hơi nước trong khí
quyển biến thành axit nitric tạo nên những trận mưa axit làm trụi lá cây, khi rơi
xuống mặt đất và các ao hồ, axit làm cản
trở sự phát triển của các động vật hoang dã và các loài cá.
Ô nhiễm nguồn nước. Ngành chăn nuôi không chỉ chiếm đoạt một lượng
nước rất lớn cần cho đời sống của con người mà còn thải vào những nguồn nước
ngọt còn lại rất nhiều độc tố. Tất cả các công đoạn của chăn nuôi như nuôi
dưỡng súc vật, trồng cây làm thức ăn gia súc, xử lý các sản phẩm chăn nuôi đều
tạo ra các độc tố.
- Các chất thải chăn
nuôi – Phân, nước thải, nước rửa chuồng trại, nước tắm rửa cho súc vật đều là
những nguồn gây ô nhiễm.
Phân súc vật chứa các
chất dinh dưỡng nitơ, phốtpho, kali, thuốc thú y, kim loại nặng, vi khuẩn vi
rút sinh bệnh.
Các chất dinh dưỡng . Súc vật không hấp thụ được hết chất
dinh dưỡng trong thức ăn, đặc biệt là nitơ. Bò sữa thải ra đến 79% nitơ và 73%
phôt pho ăn vào. Phân heo có hàm lượng nitơ cao (76,2 g Nitơ trong một kg phân
khô), phân gà có nhiều phốt pho (20,8 g P trong 1 kg phân khô). Thấm vào các
nguồn nước, chúng gây hiện tượng phú dưỡng làm cho các cây cỏ, mọc dưới nước,
các loại tảo phát triển nhanh chóng, lấy hết oxy trong nước, nước sẽ có mùi, các
vi khuẩn gây bệnh sẽ phát triển. Rong bèo phát triển nhanh làm tắc dòng chảy.
Phân chuồng bón ruộng
có ảnh hưởng đến các mạch nước ngầm. Ở Việt Nam, năm 2004 có 442.000 tấn Nitơ
và 212.000 tấn Phốtpho thải vào nước biển, 38% nitơ và 92% phôtpho từ các trại
nuôi heo. Nitơ dưới dạng nitrat trong nước uống có hại cho sức khỏe trẻ em, đối
với người lớn, gây sẩy thai và ung thư dạ dày.
Các chất hữu cơ . Trong phân súc vật cũng có nhiều chất hữu cơ
gây ô nhiễm nguồn nước, hút oxy trong nước. Ô nhiễm được đánh giá bằng chỉ số
BOD (Biological Oxygen Demand) , nước sạch có BOD bằng 5, nước bị phân súc vật
làm ô nhiễm có BOD bằng 20.000 đến 30.000. Trong phân hóa học bón ruộng có clo
hữu cơ và phôtpho hữu cơ, việc bón phân hóa học để trồng thực phẩm chăn nuôi có
thể gây ô nhiễm hữu cơ.
Ô nhiễm sinh học. Các vi sinh vật và ký sinh trùng đa bào
có trong phân súc vật và trong thịt động vật có thể truyền bệnh qua đường nước
uống hay ăn thịt động vật. Ta có thể kể một số
Thuốc thú y. Kháng
sinh, hoóc môn tăng trọng mặc dù được trộn vào thức ăn gia súc ở liều lượng
thấp nhưng có thể gây ô nhiễm. Kháng sinh trong nước có thể tạo ra các chủng vi
khuẩn nhờn thuốc. Hoóc môn có thễ gây biến thể, thay đổi giới tính trong các
loài động vật hoang dã, các loài cá. Hooc môn như acetat trebolone có thể sống
đến 270 ngày trong phân súc vật. Năm 1977, các nước châu Âu cấm cho súc vật
uống kháng sinh và các hoóc môn, nhưng hai năm sau, 1999, người ta vẫn cho súc
vật nuôi lấy thịt uống 3900 tấn tetracyclin và khoảng 700 tấn hooc môn
Kim loại nặngĐồng,
kẽm, xêlen, côban, asen, sắt, mangan có trong thức ăn gia súc. Các động vật chỉ
hấp thụ chúng rất ít , từ 5% đến 15%, còn lại thải ra ngoài.Các kim loại ấy dều có hại cho sức khỏe con
người khi uống phải nước ô nhiễm hay ăn thịt động vật.
Các biện pháp kỹ thuật để bảo vệ môi trường trong chăn nuôi
-Ngăn phát tán amôniac : giữ phân trong thùng có nắp đậy
-Lựa chọn thức ăn gia
súc để có thể hấp thụ hết chất dinh dưỡng
-Ủ phân, bón phân đúng
lúc, trộn các chất ngăn hiện tượng nitrat hóa
-Giảm lượng phôt pho
trong thức ăn. Ở Mỹ năm 2001 giảm từ 450 mg/ngày xuống còn 250 mg/ngày. Ở Thụy
sĩ, giảm được 28% đồng và 17% kẽm trong phân heo.
-Quản lý tốt chuồng
trại, quản lý việc xử lý phân súc vật.
Ngành chăn nuôi tạo khí thải nhà kính
Những khí thải nhà kính
chính mà ngành chăn nuôi tạo ra gồm CO2 (9% tổng lượng CO2
phát ra trên toàn thế giới do các hoạt động của con người), mêtan CH4
(37% tổng lượng mêtan )và oxit nitrơ (65% tổng lượng N2O) Mêtan mạnh
gấp 21 lần CO2 và oxit nitrơ mạnh gấp 296 lần CO2 trong
việc gây biến đổi khí hậu.
Ngành chăn nuôi phát
thải đến 18% khí nhà kính gây biến đổi khí hậu. Đây là một tỷ lệ rất lớn. Ngành
giao thông vận tải gồm các phương tiện thủy, bộ, đường sắt, hàng khônggộp chung lại cũng chỉ phát tán 13% khí nhà
kính. Vì vậy muốn giảm khí nhà kính một cách hữu hiệu, người ta cần phải giảm
số lượng súc vật nuôi bằng cách ăn ít thịt hay ăn chay.
Hình 8cho thấy các công đoạn của ngành chăn nuôi đều
có phát thải khí nhà kính .
Hình 8
Phá rừng và sa mạc hóa. Người ta phá rừng để làm đồng cỏ chăn nuôi và lấy đất trồng thức ăn gia
súc. Lượng CO2 thoát ra còn tùy thuộc vào cách phá rừng, nếu đốt
rừng thì phát thải rất nhiều CO2. Trong giai đoạn 1980-1989, do phá
rừng mà hàng năm trên 6 tỷ tấn CO2 được tung vào khí quyển. Ở Nam Mỹ
hiện nay có đến 3 triệu hecta rừng bị phá để phục vụ cho chăn nuôi và người ta
có thể tính lượng CO2 phát tán là 2,4 tỷ tấn chỉ riêng ở Nam Mỹ.Đất dùng cho chăn nuôi trâu bò sẽ nhanh chóng bị sa mạc hóa
và không còn hấp thụ CO2 được nữa
Từ phân (trực tiếp và gián
tiếp) Mêtan được phát thải từ hiện tượng phân hủy
kỵ khí các chất chứa trong phân súc vật, nhất là phân dạng lỏng. Ở các trại
chăn nuôi lớn, người ta thường thải phân trộn với nuớc rửa chuồng vào trong
những cái hồ chứa phân và ở đây, các vi khuẩn tạo mêtan sẽ phân hủy các chất
hữu cơ tạo ra mêtan (hình 8) Sự phát triển của các loại vi khuẩn này phụ thuộc
vào nhiệt độ, độ ẩm, thời gian lưu trữ, năng lượng có chứa trong thức ăn gia
súc…
Theo
Tổ chức Lương Nông Quốc tế, hàng năm lượng mêtan thải ra từ phân súc vật lên
đến 17,5 triệu tấn. Trung quốc là nước phát thải mêtan từ phân súc vật nhiều
nhất thế giới, chủ yếu là từ phân heo.
Hình
9
Phân
và nước tiểu các loài động vật nuôi lấy thịt cũng cho phát tán nitơ ra không
trung dưới dạng amôniac và urê. Trong nước tiểu động vật 70% nitơ là dưới dạng
urê và amôniac. Trong phân gia cầm, nitơ phát ra dưới dạng axit uric. Để phát
ra oxit nitrơ, một chất khí nhà kính rất mạnh, gấp 296 lần CO2, nitơ
hữu cơ và amôniac trong phân súc vật phải qua trạng thái nitrat và nitrit trong
môi trường ưa khí. Sau đó các nitrat và nitrit biến thành oxit nitrơ N2O
và oxit nitric NO trong môi trường kỵ khí. Oxit nitrơ còn thoát ra không trung từ phân và
nước tiểu súc vật khi chúng cho thoát trực tiếp ra đất hay khi người ta bón
phân chuồng cho cây trồng. Hàng năm, phân súc vật phát thải ra không trung
khoảng 2 triệu tấn nitơ dưới dạng amôniac (NH3-N) và khoảng 700 nghìn tấn N2O.
Amôniac không phải là một khí nhà kính và ngành chăn nuôi thải ra đến 64%
tổng lượng NH3 trên thế giới.Trên hình 9 ta có lượng oxit nitrơ phát thải
từ phân súc vật năm 2004, tính bằng triệu tấn.
Bò sữa
0,41
(triệu tấn năm 2004)
Bò thịt
1,64
Trâu
0,17
Dê, cừu
0,68
Lợn (Heo)
0,44
Gia cầm
0,36
Tổng cộng
3,69
Hình 10
Từ quá trình tiêu hóa trong ruột các loài nhai lại
Một
lượng lớn khí nhà kính cũng được thải ra từ quá trình tiêu hóa của động vật.
Mặc dù hiện tượng thở của các loài động vật (và cả của người) phát thải một
lượng CO2 rất lớn, 3 tỷ tấn đối với súc vật nuôi, nhưng đấy chỉ là
quá trình tuần hoàn của cacbon có xuất phát điểm từ hiện tượng quang hợp. Chính
việc thải mêtan từ hiện tượng lên men các chất xơ trong ruột các loài nhai lại
mới có tầm quan trọng lớn. Ở Brazil, quốc gia có ngành chăn nuôi gia súc lớn,
trong mùa 1993-1994, gia súc phát thải 9,4 triệu tấn mêtan từ tiêu hóa, chiếm
72% lượng mêtan phát thải trên toàn quốc. Năm 2006, Tổ chức Lương Nông quốc tế
tính lượng mêtan phát thải từ quá trình tiêu hóa của các loài gia súc trên thế
giới là 86 triệu tấn (gần với lượng do Cơ quan Bảo vệ
Môi trường của Mỹ, US-EPA. tính được l 80 triệu tấn).
Từ việc sản xuất phân bón cho cây làm thức ăn gia súc
Việc
sử dụng các nhiên liệu hóa thạch trong sản xuất phân bón nhất là phân đạm cho
phát tán 41 triệu tấn CO2 hàng năm. Phân dùng để bón cho cây trồng
làm thức ăn gia súc chiếm một lượng lớn trong sản lượng phân đạm. Trên thế
giới, 97% phân đạm được sản xuất từ khí đốt thiên nhiên, trong khi ở Trung quốc
có 60% phân đạm sản xuất từ than đá. Đây là những kỹ thuật cho phát tán nhiều
khí CO2
Từ nhiên liệu sử dụng trong chăn nuôi
Các
trại chăn nuôi lớn ở Mỹ và châu Au sử dụng rất nhiều nhiên liệu hóa thạch để
chạy máy nông nghiệp, máy bơm cho tưới tiêu, xe cộ để vận chuyển các thành
phẩm, các thiết bị điều hòa không khí chuồng trại, bảo quản thịt đông lạnh….Nếu
tính năng lượng do thịt cung cấp trong dinh dưỡng so với năng lượng sử dụng để
sản xuất thịt thì người ta thấy hiệu suất sử dụng năng lượng rất thấp. Năng
lượng đầu vào (từ nhiên liệu hóa thạch) so với năng lượng đầu ra (trong prôtêin
động vật) ở Mỹ là 54 :1 đối với thịt bò, 50 :1 đối với thịt cừu. Việc
sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong chăn nuôi cho phát tán một lượng CO2
rất quan trọng
Các biện pháp kỹ thuật giảm khí thải nhà kính trong chăn nuôi
-Thu
gom và cất giữ CO2, bằng cách trồng cây, giảm diện tích đất rừng bị
phá, chuyển sang chăn nuôi theo hệ thâm canh
-Dinh
dưỡng tối ưu cho các loài nhai lại để giảm khí mêtan phát ra trong quá trình
tiêu hóa
-Phân
và chất thải chăn nuôi giữ trong các thùng có nắp đậy
-Hạ
nhiệt độ phân và chất thải xuống dưới 10oC
-Ủ
phân và giữ phân trong 6 tháng để giảm hiện tượng lên men và phát thải oxit
nitrơ
-Có
chính sách nông nghiệp thích hợp để quản lý việc sử dụng đất, sử dụng nứơc,
đánh thuế cacbon, thuế thịt.
Chế độ dinh dưỡng để giúp giai độc môi trường và chống lại biến đổi khí hậu
Cho đến nay,
người ta chỉ đưa ra những biện pháp kỹ thuật để giải độc môi trường và chống
lại biến đổi khí hậu đối với các độc tố đến từ ngành chăn nuôi. Các biện pháp
ấy dựa trên giả thuyết là ngành chăn nuôi vẫn phát triển đều đặn, số lượng động
vật nuôi để lấy thịt không hề giảm. Đấy chỉ là tác động lên phần ngọn mà không
đụng đến phần gốc. Muốn giảm ô nhiễm môi trường và chống lại biến đổi khí hậu
một cách quyết liệt hơn, người ta phải tác động lên phần gốc, nghĩa là phải tìm
cách giảm số động vật nuôi để lấy thịt. Muốn làm như vậy, giải pháp đơn giản
nhất là giảm lượng thịt tiêu thụ nghĩa là tăng số người ăn chay hay ăn ít thịt.
Hiện nay,
người dân trên thế giới đã bắt đầu ý thức được tầm quan trọng của giải pháp ăn
chay. Số người ăn chay vì lý do bảo vệ môi trường ngày càng tăng.
Chống lại biến
đổi khí hậu bằng cách giảm khí mêtan do chăn nuôi thải ra có nhiều điều lợi so
với giảm CO2 từviệc sử dụng
nhiên liệu hóa thạch. Mêtan do con người tạo ra đã tăng 149% từ khi bắt đầu
thời kỳ công nghiệp hóa ở cuối thế kỷ 18, trong thời gian ấy, CO2
tăng 36%. So với lượng CO2 có nguồn gốc từ thiên nhiên thì CO2
nhân tạo chỉ chiếm 3% trong khi mêtan nhân tạo bằng 1,5 lần lượng mêtan có
nguồn gốc từ thiên nhiên. Chu trình CO2 trong khí quyển kéo dài hàng
trăm năm trong khi đời sống của mêtan chỉ là 8 năm. Tỷ lệ quay vòng trung bình
của trâu bò là 1 đến 2 năm, trong khi tỷ lệ quay vòng của các cơ sở phát thải
CO2 là hàng chục năm cho nên giảm mêtan phát thải có thể thấy ngay
công dụng, nhiệt độ trái đất có thể xuống rất nhanh.
Vì những lý do
ấy và nhiều lý do khác mà các nhà khoa học trên thế giới bắt đều có những
nghiên cứu để chứng minh lợi ích của ăn chay chống lại biến đổi khí hậu
Năm 2006, tạp
chí y học hàng đâu của nước Anh The Lancet, đưa ra một lộ trình giảm lượng thịt
tiêu thụ bình quân đầu người trên thế giới là 100 gram thịt/ ngày trong năm
2005 xuống còn 90 gram năm 2050. Theo The Lancet, có làm như vậy, người ta mới
thực hiện được mục tiêu ổn định khí nhà kính có nguồn từ nông nghiệp năm 2050 ở
mức của năm 2005.
Tháng 7 năm
2009, Cơ quan Đánh giá Môi trường Hà Lan tính lại khả năng giảm chi phí từ năm
2000 đến năm 2050 để ổn định nồng độ khí thải nhà kính ở mức 450 ppm. Nếu trên
thế giới người ta không ăn thịt động vật nữa thì chi phí này có thể giảm bớt
70% - 80% vì lượng khí thải nhà kính đã giảm đi rất nhiều. Ngay cả một chế độ
dinh dưỡng ăn ít thịt, nhiều cá do trường Y, Đại học Havard khuyến cáo thì cũng
giúp giảm chi phí nói trên đến 50%.
Nói tóm lại,
chế độ dinh dưỡng không dùng thịt động vật là biện pháp hữu hiệu nhất để giải
độc môi trường.