Từ khóa Trong
   
 
 
ĐỘC TỐ VÀ GIẢI ĐỘC MÔI TRƯỜNG (phần 1)
 


Con người ai cũng phải ăn để sống. Trong quá trình sản xuất thực phẩm, người ta vô tình hay cố ý đưa vào thức ăn những độc tố có hại cho sức khỏe con người cho nên việc lựa chọn chế độ dinh dưỡng để giải độc cơ thể là một điều rất cần thiết. Cũng trong việc sản xuất thực phẩm cho người, đặc biệt là việc chăn nuôi súc vật để lấy thịt làm thức ăn, nhiều độc tố cũng được tung vào môi trường. Nhiều chất độc hại có thể gây ô nhiễm môi trường và tác hại là trước mắt, ngay trong đời sống thường ngày của chúng ta. Nhưng có nhiều chất khác do ngành chăn nuôi thải ra còn gây những hậu quả nghiêm trọng hơn, đó là các khí thải nhà kính gây biến đổi khí hậu trong một tương lai rất gần và là nguyên nhân của những thảm họa vô cùng nghiêm trọng cho con cháu chúng ta trong tương lai. Những thảm họa ấy, chúng ta đã nhận thấy ngay từ bây giờ và chúng sẽ ngày càng mạnh lên và nhiều lên. Đó là những trận bão, những trận lũ, đó là hiện tượng mực nước biển dâng làm ngập đất, những đợt nóng bất thường vân vân…


Việc giải độc cho cơ thể nhờ sự lựa chọn đúng đắn một chế độ dinh dưỡng là một điều dễ hiểu, vì nhiễm độc có tính cục bộ và biện pháp giải độc cũng có tính cục bộ. Nhưng môi trường cũng như khí hậu là những tình trạng trên những địa bàn rộng lớn, bao gồm một địa phương hay cả thế giới. Sự lựa chọn chế độ dinh dưỡng của một cá nhân, chủ yếu là sự từ chối ăn thịt động vật có thể đóng góp một phần nhỏ bé vào việc giải độc cho môi trường hay chống lại biến đổi khí hậu. Nhưng nếu cả một tập thể, một cộng đồng cùng lựa chọn một chế độ dinh dưỡng có khả năng giải độc, chế độ dinh dưỡng không dùng thịt động vật, thì kết quả có thể rất lớn vì lúc ấy nó tác động lên ngành chăn nuôi của cả một quốc gia hay của toàn thế giới.

 

Các hậu quả của ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu do ngành chăn nuôi gây ra

 

Ngành chăn nuôi súc vật để lấy thịt thải ra môi trường xung quanh rất nhiều chất độc gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước uống. Người ta có nhiều biện pháp kỹ thuật để thanh lọc môi trường, thậm chí có khi phải di dời hay đóng cửa các cơ sở gây ô nhiễm.

 

Các khí thải nhà kính do tất cả các khâu của ngành chăn nuôi thải ra sẽ làm nhiệt độ trái đất tăng cao kéo theo nhiều hiện tượng cực đoan như bão, lũ, sạt lở đất….làm thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản và tính mạng của con người. Vì những tác hại này mà các khí thải nhà kính có thể xem như những chất độc và việc giải độc chính là làm giảm lượng khí ấy. Một ảnh hưởng mà chúng ta và con cháu chúng ta phải gánh chịu là việc mực nước biển dâng cao, rất nguy hại đến đời sống của những cư dân trên các vuøng đất thấp như đồng bằng sông Mékong hiện chúng ta đang sinh sống. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (hình 1) , khi nước biển dâng cao 1mét, điều có thể xảy ra vào cuối thế kỷ này thì một phần ba đồng bằng Nam Bộ sẽ bị chìm dưới nước. Sẽ có 23% diện tích đất thành phố Hồ Chí Minh tương đương với 473 km2 bị ngập.


 

Hình 1

 

Chống lại biến đổi khí hậu, người ta phải sử dụng mọi biện pháp trong số đó có việc giảm khí đioxit cacbonic CO2 là quan trọng nhất. CO2 sinh ra chủ yếu là do việc sử dụng các nhiên liệu hóa thạch, và đây sẽ là đối tượng quan trọng nhất trong các thảo luận về việc cắt giảm khí nhà kính tại Copenhagen vào tháng 12 tới.

 

Nhưng còn một khí nhà kính quan trọng, đó là khí mêtan CH4, khí này có tiềm năng gây biến đổi khí hậu mạnh gấp 21 lần khí CO2 và người ta bắt đầu có những nghiên cứu về việc cắt giảm mêtan. Vì ngành chăn nuôi súc vật để lấy thịt thải ra không trung đến 37% tổng lượng mêtan cho nên tác động đến ngành chăn nuôi là biện pháp hữu hiệu nhất. Tác động đến ngành chăn nuôi còn có nghĩa là giảm số lượng động vật nuôi lấy thịt và chỉ có chế độ dinh dưỡng không dùng thịt mới giúp đạt đến mục đích này.

 

Ngành chăn nuôi động vật để lấy thịt

 

Các động vật được nuôi lấy thịt đã có một lịch sử lâu đời có lẽ từ trên 10.000 năm trở lại đây. Nhưng vì nhiều lý do, trong đó có sự phát triển kinh tế mà người ta nuôi càng ngày càng nhiều động vật. Lượng thịt tiêu thụ trên thế giới đã tăng gần năm lần giữa các năm 1950 và 2000 trong khi dân số trong khoảng thời gian ấy chỉ tăng gấp đôi (hình 2)

 

Lượng thịt sản xuất trên thế giới:

   1950        45 triệu tấn thịt   (dân số thế giới 2,7 tỷ người)

   2000       233 triệu tấn thịt  (dân số thế giới  6,1 tỷ người)

 

Lượng thịt tiêu thụ hàng năm/đầu người (kg)

                Các nước đang phát triển    Các nước phát triển

   1980                 14                                  73

   2002                 28                                  78       

 

                                                       Hình 2

 

Người ta cũng thấy có mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người  và lượng thịt tiêu thụ bình quân (hình 3)


Hình 3-  Quan hệ giữa lượng thịt tiêu thụ và thu nhập tính theo đầu người  (2002)

 

Trên hình 4, ta có lượng thịt tiêu thụ bình quân trên thế giới . Cách đây 40 năm, mức tiêu thụ thịt ở Trung quốc chỉ là 4kg/người/năm. Đến nay đã lên đến 54 kg/ người năm.

Trên hình 5, lượng thịt tiêu thụ trên thế giới và ở Việt Nam từ năm 1970 đến 2002. Ở nước ta, sau thời kỳ đổi mới, kinh tế đi lên, lượng thịt tiêu thụ bình quân đầu người cũng tăng vọt từ 9 lên 29 kg. Trong tất cả các nước đang phát triển, đã có sự chuyển biến dinh dưỡng từ thực vật sang thịt và sữa, mặc dù không phải là nhiều lắm (hình 6).


Hình 4

 

Năm

1970

1980

1990

2000

2002

Thịt tiêu thụ trên thế giới (x 1000T)

100.000

136.000

180.000

234.000

246.000

Thịt tiêu thụ ở Việt Nam (x 1000T)

434

496

1.062

1.908

2.294

Bình quân

thế giới (kg)

24,8

28,1

31,2

38,6

39,7

Bình quân

Việt Nam (kg)

10,1

9,4

16,1

24,4

28,6

 

                                  Hình 5

 

 

1962

1970

1980

1990

2000

2002

2003

Ngũ cốc

132

145

159

170

161

158

156

Củ

18

19

17

140

15

15

15

Củ có bột

70

73

63

53

61

61

61

Thịt

10

11

14

19

27

28

29

Sữa

28

29

34

38

45

46

48

 

                                              Hình 6

 

Vì có sự phát triển như thế nên ngành chăn nuôi trên thế giới thải ra môi trường ngày càng nhiều độc tố trong số đó có các khí nhà kính gây biến đổi khí hậu. Ngoài ra, ngành chăn nuôi còn gây hại đến đời sống con người trên trái đất và đến nền kinh tế thế giới bằng cách chiếm lĩnh đất đai, chiếm lĩnh nguồn nước hay phá hủy tính đa dạng sinh học.

 

 

Ngành chăn nuôi gây tác động lên môi trường 

 

Sử dụng đất.  Ngành chăn nuôi chiếm nhiều đất đai làm đồng cỏ cho súc vật hay để trồng các loại cây (đậu nành, bắp…) làm thức ăn cho gia súc. Những diện tích đất đai này nếu được dùng để trồng thức ăn cho người thì nạn đói trên thế giới có thể được giải quyết. Các nước nghèo, dù còn nhiều người bị đói, vẫn bỏ ra nhiều đất trồng cây thức ăn gia súc bán cho các nước giàu. Người ta tính rằng nếu nước Mỹ chỉ tiêu thụ ít đi 10% thịt thì số thực phẩm dùng cho chăn nuôi có thể cứu 1 tỷ người trên thế giới thoát nạn đói. Trong một nước, người ta cũng sản xuất nhiều thực phẩm phục vụ cho chăn nuôi để lấy thịt dùng trong các bữa ăn của người giàu có. Ở Mexico, 30% sản lượng ngũ cốc được dùng làm thức ăn gia súc, trong khi 22% dân số còn thiếu đói. Nếu ăn chay có khả năng làm tan biến sự bất công này, thì ý nghĩa đạo đức, tôn giáo của nó càng thêm củng cố.

 

Sử dụng nước. Ngành chăn nuôi sử dụng một lượng nước rất lớn trong khi ở nhiều nơi trên thế giới, nước là một tài nguyên rất quý hiếm. Hình 7 cho ta thấy để sản xuất 1 kg thịt bò, lượng nước cần dùng lên đến 15.500 lít, trong khi 1 kg bắp chỉ cần 900 lít.

 
















Người viết: TS Nguyễn Thọ Nhân
Lượt xem: 467
 
       

       
 
Các tin cùng chủ đề:
   
 
   
     
     
     
       

     
Số lượt truy cập: 4509