Từ khóa Trong
   
 
 
NƯỚC UỐNG ĐÓNG CHAI VÀ NƯỚC MÁY 3
 


tiếp trang 2


4.   Sự lựa chọn loại nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt

Trong cuộc sống hàng ngày con người có thể lựa chọn nhiều nguồn nước khác nhau phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và ăn uống của mình. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, các yếu tố xã hội tác động khác nhau và kể cả phong tục tập quán của từng vùng mà có sự lựa chọn nguồn nuớc sử dụng khác nhau. Các loại nguồn nước để cung cấp cho ăn uống có thể là: Nguồn nước mưa; Nguồn nước ngầm: nước mạch lộ, giếng khơi, giếng lọc…; Nguồn nước mặt: nước từ sông, suối, ao hồ, từ các hệ thống kênh mương thủy lợi…Trong thực tế tùy điều kiện cụ thể người ta có thể kết hợp sử dụng hai hay nhiều loại nguồn nước khác nhau để cung cấp, phục vụ cho các yêu cầu ăn uống sinh hoạt.

Nguồn nước mưa: Việt Nam có lượng mưa bình quân thuộc loại cao trên thế giới, theo số liệu thống kê khoảng 1,500mm/năm đến 2.500mm/năm. Người ta cho rằng nước mưa là sạch và tinh khiết. Thật ra, vấn đề sạch chỉ là khái niệm tương đối. Các nhà nghiên cứu đã xác định rằng: khi rơi từ độ cao từ 1000m xuống phía mặt đất 1 giọt nước mưa đã rửa tới 16.5 lít không khí. Vì vậy, nước mưa ở đầu cơn thường có cấu tạo hóa học phức tạp do việc hấp thụ các hóa chất và vi sinh vật sẵn có trong không khí, bởi các nguyên nhân:

-         Gió cuốn bề mặt nước thiên nhiên các hạt nước có muối

-         Một số sản phẩm của núi lửa bay trong các tầng không khí

-         Các tia lửa của sấm sét kết hợp N2  và O2  thành NOx

-         Các chất thải công nghiệp  bay hơi trong không khí

-         Các bụi phóng xạ

-         Nước mưa còn bị ô nhiễm ở bề mặt của diện tích thu hứng và máng dẫn. ống dẫn, bởi bụi bặm, lá cây mục, phân chim chóc và thú nhỏ…các phương tiện dự trữ nước mưa bị bẩn, không nắp đậy…hoặc dưới tác dụng của ánh nắng sẽ sinh rêu trong nước và thành bể, nước dễ bị ô nhiễm thành môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển.

Nếu lựa chọn nước mưa làm nguồn nước sử dụng chúng ta nên tránh hoặc hạn chế sử dụng nước đầu mùa mưa, những vùng gần khu công nghiệp cũng nên hạn chế sử dụng nước mưa do quá trình sa lắng từ khí quyển xuống nước mưa cuốn theo các chất khí ô nhiễm ảnh hướng đến sức khỏe người sử dụng. Cần lưu ý đến quá trình thu hứng nước mưa, vệ sinh sạch sẽ máng thu nước, mái nhà trước mỗi mùa mưa, vệ sinh lu chứa sạch sẽ nếu cần có thể xây dựng bể lọc cát lọc qua nước mưa góp phần loại bỏ các cặn có trong nước và đều quan trọng để đảm bảo sức khỏe là phải đun sôi nước trước khi uống.

Nguồn nước mặt: Do có lượng nước mưa phong phú nên nước mặt ở Việt Nam nói chung rất phong phú. Về mùa mưa nước thừa thãi cho các yêu cầu khác nhau. Nước mặt là dòng chảy của nước mưa, nước chảy ra từ các mạch lộ… được tập trung lại tích đọng thành dòng. Với mạng lưới sông ngòi dày đặc, lưu lượng dồi dào cả hai mùa, có thể nói nguồn nước mặt ở Việt Nam là nguồn nước chủ lực phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu của nhiều vùng dân cư. Về cơ bản, nguồn nước mặt là nguồn nước bị ô nhiễm vì trên suốt chiều dài dòng chảy bị nhiễm bẩn bởi lá cây thối mục, đất bờ xói mòn, cây cỏ, xác xúc vật, nước thải sinh hoạt, thậm chí cả nước thải công nghiệp xả vào. Ở các con sông lớn dòng chảy mạnh, khả năng tự làm sạch lớn, chất lượng nước có khá lớn. ở những sông nhỏ, nông, kênh rạch đi vào từng xóm làng, xa sông chính…mức độ nhiễm bẩn nặng nề. Chất lượng nước còn bị ảnh hưởng bởi phân bón, thuốc trừ sâu. Nước mặt bị ảnh hưởng thời tiết đáng kể. Mùa mưa mực nước dâng lên cao, mùa kiệt nước ít lòng sông thu hẹp lại đáng kể. Chất lượng nước cũng thay đổi rất lớn theo mùa nên gây trở ngại rất lớn cho các công trình xử lý. Khi lựa chọn nguồn nước mặt làm nguồn nước cấp cho sinh hoạt và ăn uống cần chú ý xử lý chất lượng đạt theo yêu cầu quy định của Bộ Y tế.

 Nguồn nước ngầm: Nước ngầm ở Việt Nam khá phong phú về trữ lượng và khá tốt về chất lượng. Đó là nước tồn tại trong các lỗ hổng và khe nứt của đất đá, được tạo thành trong giai đoạn trầm trích đất đá hoặc ngấm xuống từ các dòng khối nước mặt, nước mưa...Nước ngầm có thể tồn tại cách mặt đất vài mét, vài chục mét, thậm chí vài trăm mét. Chất lượng nước dưới đất nói chung là tốt, ít có trường hợp bị nhiễm bẩn hữu cơ, ở nhiều vùng có thể sử dụng trực tiếp không cần xử lý. Tuy nhiên, nước ngầm thường có tổng khoáng hóa cao, nhiều khi chứa các chất khí hòa tan, có nhiều sắt và mangan. Ở nhiều vùng  nước ngầm bị nhiễm mặn hoặc có độ cứng cao…Vì vậy khi lựa chọn sử dụng nước ngầm để sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt, nhất thiết chúng ta phải kiểm tra chất lượng nguồn nước thô đảm bảo đạt các yêu cầu chất lượng không chứa các độc chất ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Nếu nước ngầm không đạt chất lượng thì đòi hỏi chúng ta phải xử lý đến khi đạt theo các các tiêu chuẩn chất lượng quy định thì mới được sử dụng.

 So sánh lựa chọn nguồn nước phù hợp để phục vụ cho mục tiêu cấp nước sinh hoạt ăn uống là một vấn đề rất quan trọng. Các nguồn nước khác nhau với những đặc tính về chất lượng khác nhau sẽ có tác động trực tiếp đến mức độ yêu cầu về công trình xử lí chất lượng. Vị trí của các nguồn nước, khoảng cách từ nguồn đến khu vực dùng nước, mức độ phức tạp khi thu nước.. cùng với các đặc tính về chất lượng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành xây dựng công trình và chi phí quản lí, chế độ bảo dưỡng, vận hành…Vì vậy, vấn đề lựa chọn nguồn nước là một trong những vấn đề đầu tiên cần được xem xét, tính toán một cách kỹ lưỡng khi xây dựng các phương án cấp nước. Lựa chọn nguồn nước là một trong những vấn đề đầu tiên cần được xem xét, tính toán một cách kỹ lưỡng khi xây dựng các phương án cấp nước.

5.   Bảo vệ và sử dụng nguồn nước

Nạn thiếu nước đã trở thành một nguy cơ lớn trên hành tinh chúng ta ngày nay, nhưng loài người không chịu bó tay mà đang tích cực tìm cách giải quyết, khắc phục. Trước hết là xây dựng các hệ thống cấp nước tuần hoàn để tiết kiệm nước đã trở thành biện pháp chủ yếu. Như chúng ta đã biết: Trong ngành công nghiệp, nước làm nguội thường được sử dụng với khối lượng rất lớn, do đó để tiết kiệm nước trong các xí nghiệp này người ta xây dựng các hệ thống cấp nước tuần hoàn. Thứ hai người ta ngày càng dùng nhiều nước thoát sinh hoạt thành phố sau xử lý  vào những mục đích thứ yếu như tưới cây, tưới đường hay làm nguội...

Để chống lại việc làm ô nhiễm nguồn nước, nhiều nước đã ban hành các luật môi trường và bảo vệ nguồn nước được Quốc hội và Chính Phủ thông qua. Nhiều nước cũng đã thành lập các Ủy ban kiểm tra vệ sinh nhà nước và các luật lệ cụ thể để theo dõi, kiểm tra việc bảo vệ nguồn nước. Ví dụ, luật bảo vệ nguồn nước có quy định tất cả nước thải sinh hoạt và sản xuất đều phải được xử lí đạt giới hạn tiêu chuẩn cho phép TCVN 5945-1995 cho nước thải công nghiệp và TCVN 5942-1995 cho nước thải sinh hoạt, mới được thải ra sông suối. Tại chỗ lấy nước cấp cho sinh hoạt phải có khu vực bảo vệ nghiêm khắc trong phạm vi 300 -500m; trong khu vực này không được thải bất kỳ loại nước nào mặc dù  đã được xử lí và không được để súc vật, người tắm rửa giặt giũ cũng như bơi lội, tàu bè đỗ lại….Ngoài khu vực nghiêm cấm còn có khu vực hạn chế…

Thứ ba là việc chống thừa thiếu nước cục bộ. Để làm việc này người ta đã tiến hành cải tạo các dòng sông và xây dựng rất nhiều các đập chắn nước khổng lồ trên sông. Song song với việc cải tạo các dòng sông, con người còn nghiên cứu quy hoạch sử dụng tổng hợp các dòng sông để tận dụng nó một cách hợp lí nhất và hiệu quả hơn.



Người viết: BS Nguyễn Xuân Mai
Viện Phó Viện Vệ Sinh Y Tế Công Cộng

Lượt xem: 387
 
       

       
 
Các tin cùng chủ đề:
   
 
   
     
     
     
       

     
Số lượt truy cập: