Từ khóa Trong
   
 
 
NƯỚC UỐNG ĐÓNG CHAI VÀ NƯỚC MÁY 2
 


tiếp trang 1


3.   Tổng quan về xử lý nước máy và nước uống đóng chai

Trong thực tế ít có nguồn nước nào tự nhiên có thể đáp ứng các yêu cầu sử dụng sinh hoạt và sản xuất của con người. Đối với nước bề mặt (sông, ao, hồ…) thường chứa một lượng lớn hàm lượng cặn và các chất lơ lửng cao từ vài chục đến vài trăm mg trong một lít. Ngoài ra, quá trình chảy của nước bề mặt từ nơi này đến nơi khác cũng cuốn trôi một lượng lớn các chất bẩn vào trong nguồn nước (các vi trùng gây bệnh, các hóa chất bảo vệ thực vật được rửa trôi vào các dòng sông…). Nước ngầm (nước giếng khoan, giếng ngầm) có thành phần chất lượng nước phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện địa chất tại nơi chứa nước, nước ngầm có độ cứng cao hay gặp tại các mỏ đá vôi do hòa tan một lượng lớn hàm lượng vôi vào trong nước hay khi nước ngầm đi qua khu vực có chứa các mỏ sắt thì nó hòa tan đáng kể hàm lượng sắt vào trong nước…Nước mưa theo quan điểm của mọi người là sạch nhưng thực tế quá trình rơi từ không trung xuống dưới đất đã hòa tan và kéo theo một lượng chất nhiễm bẩn nhất định vào trong nước (hoàn tan các khí SO2, NOx làm cho nước mưa có tính acid…) mặt khác nước mưa cũng có thể nhiễm bẩn từ quá trình hứng nước mưa bởi các dụng cụ không sạch như mái nhà, lu chứa…

Để có các loại nước thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của mình con người nghĩ tới việc xử lý các nguồn nước thiên nhiên. Có rất nhiều quy trình và công nghệ xử lý khác nhau, tùy thuộc vào thành phần chất lượng các nguồn nước thiên nhiên và yêu cầu chất lượng đáp ứng. Trong khuôn khổ bài viết, chúng ta tìm hiểu về quy trình xử lý nước máy (nguồn nước cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt và ăn uống của đại bộ phận dân chúng) và nước uống đóng chai (một sản phẩm nước uống đang được sử dụng phổ biến tại các đô thị trong giai đoạn hiện nay).

3.1.      Quy trình xử lý nước máy

Nguồn nước dùng cho quy trình xử lý nước máy thường đi từ 2 nguồn nước mặt và nước ngầm và có quy trình xử lý khác nhau:

Đối với nguồn nước là nước mặt, trong quy trình xử lý quan trọng nhất là quá trình làm sạch (làm trong nước) trong qua quá trình keo tụ. Các chất keo tụ thường sử dụng là phèn sắt (FeCl3) hoặc phèn nhôm Al3(SO4)2 đôi khi sử dụng kết hợp cả hai để tăng hiệu quả quá trình keo tụ. Mục đích của quá trình keo tụ là tăng cường khả năng dính bám của các hạt cặn trong nước (tạo hạt cặn có kích thước lớn hơn) làm tăng khả năng lắng cặn.

Chất keo tụ

Nguồn nước

 

Bơm

Bể keo tụ

Bể lắng

Lọc nhanh

Chất diệt trùng

 

Bể chứa

Bơm

Mạng lưới

Đài nước

Hộ gia đình

Clo dư

 

Chất keo tụ

Nguồn nước

 

Bơm

Bể keo tụ

Bể lắng

Lọc nhanh

Chất diệt trùng

 

Bể chứa

Bơm

Mạng lưới

Đài nước

Hộ gia đình

Clo dư

Hình 1: Quy trình xử lý nước mặt có độ đục trung bình

Sau quá trình keo tụ đến quá trình lắng, mục đích quá trình lắng là tách cặn ra khỏi nước. Quá trình lắng diễn ra với tốc độ chậm dưới 1mm/s, các hạt cặn sẽ rơi xuống đáy bể dưới tác dụng của trọng lực. Khoảng 80% các hạt cặn sẽ được tách ra tại bể lắng. Sau bể lắng là quá trình lọc nhanh (lọc cát) với tốc độ lọc từ 0,3- 10 m/h sẽ giữ lại các hạt cặn có kích thước nhỏ không lắng được ở bể lắng (hình 1). 

Nước sau quá trình lọc nhanh được khử trùng bằng Clo (nước hoặc khí ) nhằm đảm bảo tiêu diệt các vi sinh trùng gây bệnh có trong nước ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng. Nước sau khử trùng được bơm lên bể chứa và bơm vào mạng lưới cấp nước phân phối đến các hộ gia đình sử dụng. Thông thường để đảm bảo nước được khử trùng trong suốt hệ thống từ bể chứa đến hộ gia đình sử dụng, người ta thường duy trì hàm lượng Clo dư trong hệ thống phân phối từ 0,3 – 0,5 mg/l.

Đối với nước máy có nguồn từ nước ngầm thì trong quy trình xử lý người ta chú ý nhiều đến quá trình nhiễm sắt trong nước ngầm (sắt là một kim loại thường có trong nước ngầm). Để khử sắt trong nước ngầm phải qua quá trình oxy hóa chuyển sắt hòa tan (ở dạng sắt hóa trị 2) thành sắt kết tủa dạng Fe(0H)3 sau đó loại bỏ kết tủa sắt bằng quá trình lọc. Để thực hiện quá trình oxy hóa sắt có nhiều cách khác nhau, nếu bị nhiễm sắt ít có thể xử lý bằng dàn mưa (oxy hóa tự nhiên) hoặc tăng cường oxy hóa bằng việc sử dụng máy thổi khí hoặc sử dụng các hợp chất oxy hóa mạnh như: nước Javen, Ozon, thuốc tím (KMnO4)…

 

Hình 2: Quy trình xử lý nước ngầm nhiễm sắt

Nước giếng sau quá trình khử sắt thường được đưa tiếp sang bể lọc (lọc nhanh, hoặc chậm) để loại các kết tủa sắt ra khỏi nước. Nước sau quá trình lọc được khử trùng (bằng Clo hoặc Ozone) sau đó đưa vào bể chứa, bơm lên đài phân phối đến các hộ gia đình sử dụng (hình 2).

Chất lượng nước máy trước khi cung cấp cho các hộ gia đình sử dụng phải được kiểm tra đảm bảo chất lượng theo quy định của Bộ Y tế. Hiện tại Bộ Y tế có 02 tiêu chuẩn quy định cho chất lượng nước sử dụng cho ăn uống và sinh họat tại các hộ gia đình.

+ Quyết định số 1329/2002/QĐ-BYT ngày 18/4/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về Tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống. Phạm vi áp dụng của tiêu chuẩn 1329 quy định chất lượng nước dùng cho ăn uống, nước dùng cho các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm, nước cấp theo hệ thống đường ống từ các nhà máy nước ở khu vực đô thị, nước cấp theo đường ống từ các trạm cấp nước tập trung cho 500 người trở lên.

+ Quyết định số 09/2005/QĐ-BYT ngày 11/03/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế về tiêu chuẩn nước sạch. Phạm vi áp dụng của tiêu chuẩn 09 quy định tiêu chuẩn chất lượng nước áp dụng cho các hình thức cấp nước hộ gia đình, các trạm cấp nước tập trung phục vụ tối đa 500 người và các hình thức cấp nước sạch khác

 

3.2Có thể nói nước uống đóng chai là một thị trường đầy tiềm năng của công nghệ đồ uống. Sử dụng nước uống đóng chai phản ánh một lối sống công nghiệp năng động. Sự phát triển nhanh chóng của thị trường nước uống đóng chai hiện nay phản ánh quy luật cung cầu hàng hóa. Theo báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng thành phố, hiện tại có khoảng 500 các công ty, cở sở thuộc lĩnh vực sản xuất nước uống đóng chai. Theo tiêu chuẩn TCVN 6096:2004 định nghĩa: “Nước uống đóng chai được sử dụng để uống trực tiếp và có thể chứa khoáng chất và cacbon dioxit (CO2) tự nhiên hoặc bổ sung nhưng không phải là nước  khoáng thiên nhiên đóng chai và không được chứa đường, các chất tạo ngọt, các chất tạo hương hoặc bất kỳ loại thực phẩm nào khác”.

Tại Việt Nam, để sản xuất nước đóng chai thông thường người ta đi theo hai hướng: thứ nhất từ nguồn nước máy thủy cục qua quá trình khử khoáng, khử khuẩn sau đó đóng chai cung cấp cho người sử dụng; con đường thứ hai đi từ nước ngầm đòi hỏi quá trình xử lý phức tạp hơn loại bỏ các chất ô nhiễm (khử mùi, sắt, nitrate, Amoniac…) gọi là quá trình xử lý thô, sau đó qua quá trình xử lý tinh loại bỏ thêm một phần các khoáng chất, khử khuẩn và đóng chai (bình) cung cấp cho người sử dụng

Hình 3: Quy trình sản xuất nước đóng chai có nguồn từ nước máy

 Để sản xuất nước đóng chai từ nguồn nước máy người ta thường chú ý đến quá tình khử khoáng (khử các cation và anion) có trong nước đến một giới hạn an toàn để có thể giữ cho nước trong một thời gian (hạn sử dụng) không bị biến đổi tính chất bằng các quá trình lọc than hoạt tính, lọc qua nhựa trao đổi Ion, sau cùng là quá trình tinh lọc (bằng lọc màng kích thước nhỏ từ 1 đến 0,1 mm) để loại cặn, khử vi trùng, khử khoáng bậc 2. Sau giai đoạn tinh lọc đến giai đoạn khử trùng, đối với nước đóng chai để khử trùng người ta hay sử dụng tia cực tím (UV) hoặc sử dụng Ozone vì nó an toàn hơn so với dùng Clo.

 

Hình 4: Quy trình sản xuất nước đóng chai có nguồn từ nước giếng

Đối với nước đóng chai có nguồn từ nước giếng thì quy trình xử lý đòi hỏi phải có quá trình xử lý thô, mục đích của xử lý thô là làm cho chất lượng nước giếng đáp ứng yêu cầu cung cấp của nước sinh hoạt và ăn uống. Quy trình xử lý thô có thể bao gồm: khử sắt, keo tụ, ổn định pH, khử mùi, khử Nitrat…Sau quá trình xử lý thô nước giếng được qua quá trình tinh lọc 1 để loại bỏ các cặn có trong quá trình xử lý thô.

Sau tinh lọc 1 tiếp theo là quá trình trao đổi Ion và lọc tinh nhằm tách thêm một phần khoáng trong nước ra đạt yêu cầu bảo quản. Nước sau lọc RO được khử trùng bằng UV hoặc Ozone sau đó đưa vào đóng bình và thành phẩm.

Tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng nước uống đóng chai căn cứ theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6096:2004 quy định chất lượng nước uống đóng chai dùng cho mục đích giải khát. Tiêu chuẩn này không áp dụng cho nước khoáng thiên nhiên đóng chai quy định trong TCVN 6213:2004. Thường định kỳ các sản phẩm nước uống đóng chai phải kiểm tra lại chất lượng ít nhất 3 tháng/1 lần.

xem tiếp trang 3


Người viết: BS Nguyễn Xuân Mai
Viện Phó Viện Vệ Sinh Y Tế Công Cộng

Lượt xem: 975

 
       

       
 
Các tin cùng chủ đề:
   
 
   
     
     
     
       

     
Số lượt truy cập: 4509