Từ khóa Trong
   
 
 
BỔ SUNG SẮT
 


- Mặc dù lượng sắt có trong cơ thể rất ít (khoảng 3.5-4g ~ 0,005% trọng lượng cơ thể) nhưng yếu tố vi lượng này có vai trò hết sức quan trọng cho sự sống. Để hiểu rõ vì sao cần bổ sung sắt , chúng ta cần tìm hiểu vai trò của sắt trong cơ thể như thế nào ?


BỔ SUNG SẮT

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP VÀ LÀM VIỆC

 

1.   Tại sao phải bổ sung sắt? Vai trò sắt trong cơ thể?

 

-              Mặc dù lượng sắt có trong cơ thể rất ít (khoảng 3.5-4g ~ 0,005% trọng lượng cơ thể) nhưng yếu tố vi lượng này có vai trò hết sức quan trọng cho sự sống. Để hiểu rõ vì sao cần bổ sung sắt , chúng ta cần tìm hiểu vai trò của sắt trong cơ thể như thế nào ?

-              Thiếu sắt dẫn đến rối loạn hệ thống liên quan đến nhiều cơ quan trong cơ thể, nhưng  đứng hàng đầu là thiếu sắt dẫn đến thiếu máu .

Bảng 1.  Vai trò của sắt trong cơ thể

 Tạo nên các hợp chất Vai trò của các hợp chất 
 

∞-Glycerophosphate dehydrogenase

Catalase

Cytochromes

 

Ferritin

Hemoglobin

Mitochondrial dehydrogenase

Monoamine oxidase

Myoglobin

Peroxidase

Ribonucleotic reductase

Transferrin

Xanthine oxidase
 

Khả năng làm việc

Men ngăn chặn oxy hóa trong hồng cầu

Sản xuất ATP, tổng hợp Protein, chuyển hóa thuốc, vận chuyển điện tử

Dự trử sắt chính yếu trong cơ thể

Vận chuyển và trao đổi oxygen  (O2)

Vận chuyển điện tử

Chuyển hóa Catecholamine

Dự trữ oxygen để cơ co thắt

Tiêu diệt vi khuẩn

Tổng hợp DNA Lymphocyte, tăng trưởng mô

Vận chuyển sắt

Chuyển hóa acid uric

Bảng 2. Thiếu sắt ảnh hưởng đến các cơ quan trong cơ thể con người

1. Hệ tiêu hóa :

        - Chán ăn : thường gặp và xuất hiện sớm

        - Pica-pagophagia ( lạnh ), geophagia ( thói ăn đất )

        - Teo gai lưỡi

        - Khó nuốt

        - Giãm acid dạ dày: khó tiêu, lình bình, buồn nôn  và đầy hơi.

        - Rối lọan kém hấp thu : ợ hơi, tiêu chảy, đi tiêu phân sống do teo niêm mạc tá tràng , tăng hấp thu canxi và chì

2. Hệ thần kinh trung ương :

        - Dễ kích thích, cáu gắt

        - Mệt mõi và giảm khả năng họat động

        - Rối lọan dẫn truyền thần kinh : phản xạ chậm.

        - Trì trệ tâm thần và khả năng phát triển thể chất và tư duy giảm sút

        - Giảm khả năng tập trung , thời gian tập trung ngắn lại

        - Phù gai thị : dễ bị chói mắt, giảm thị lực

3. Hệ Tim mạch :

        - Tăng nhịp tim và phân suất tống máu

        - Phì đại cơ tim

        - Mệt nhiều khi làm việc gắng sức, khi vận động nhanh

4. Hệ thống cơ xương khớp :

        - Cơ lực giảm, dẫn đến kém vận đông và suy kiệt

        - Khi thiếu nặng thay đổi cấu trúc xương trên x-quang: rỗng xương

        - Giãm sự lành xương khi bị gãy xương

5. Hệ thống miễn dịch

        - Tỉ lệ bệnh nhiễm trùng cấp tính và chậm phục hồi thường gặp trẻ thiếu máu thiếu sắt .

        - Gia tăng tỉ lệ nhiễm trùng hô hấp trên ở bệnh nhân thiếu sắt

        - Xét nghiệm : Giảm sự chuyển dạng tế bào bạch cấu, giảm sự tạo hạt trong tế bào đa nhân trung tính , giảm sự họat động của men peroxydase trong bạch cầu hạt.

6. Thiếu máu thiếu sắt là gì?

Thiếu máu có nghĩa là không đủ số lượng các tế bào hồng hoặc các tế bào hồng cầu có kích thước nhỏ hơn bình thường do cơ thể thiếu hụt chất sắt- thành phần quan trọng cấu tạo nên hemoglobin, chất có vai trò chính trong vận chuyển oxy từ phổi đến các cơ quan khác trong cơ thể.

- Những hậu quả do thiếu máu thiếu sắt:

Thiếu máu là một bệnh lý hệ thống và gây ra rất nhiều các hậu quả nghiêm trọng cho người bệnh, bao gồm:

(1) Thiếu máu thiếu sắt có thể dẫn đến tình trạng trẻ bị chậm phát triển tâm thần vận động và có những trục trặc về hành vi. Những hậu quả này có thể kéo dài về sau ngay cả khi thiếu máu thiếu sắt đã được phát hiện & điều trị.

(2) Thiếu máu thiếu sắt làm giảm khả năng chống nhiễm khuẩn của cơ thể do hoạt tính của các enzyme trong bạch cầu bị giảm theo với lượng sắt thiếu hụt. Một số bệnh lý nhiễm khuẩn có liên quan đến thiếu sắt như viêm màng não, tiêu chảy nhiễm trùng, gia tăng nguy cơ sốt rét, ...

(3) Đối với phụ nữ mang thai, thiếu máu thiếu sắt gây ra các hậu quả như sanh non, trẻ suy dinh dưỡng & nguy cơ mắc các bệnh có tỷ lệ tử vong cao cho cả mẹ và con.

(4) Thiếu máu thiếu sắt làm suy giảm sự phát triển về thể chất và trí tuệ của trẻ

   Thiếu máu do thiếu sắt làm trẻ chậm lớn, giảm sức đề kháng, thường xuyên mắc các bệnh nhiễm trùng nhưng quan trọng nhất là làm giảm chỉ số thông minh, giảm khả năng tư duy, sáng tạo, kết quả học tập kém. Ở trẻ dưới 1 tuổi và trẻ nhỏ dù chỉ bị thiếu máu nhẹ thì vẫn có thể ảnh hưởng tới sự phát triển trí tuệ của trẻ. Đối với trẻ dưới 2 tuổi, thiếu máu có thể ảnh hưởng lên sự điều khiển tay chân và thăng bằng, trẻ có thể e dè, hạn chế về khả năng giao tiếp.

 

2. Quá trình tiêu hao, hấp thu và nhu cầu sắt hàng ngày?Chỉ định bổ sung sắt? Các dấu hiệu định hướng cho bổ sung sắt? Làm thế nào biết mình cần bổ sung sắt?

- Qúa trình tiêu hao, hấp thu và nhu cầu hấp thu sắt hàng ngày ?

 

2.1 Chu trình của sắt :

Hành trình của sắt  trong cơ thể gần như khép kín, rất ít trao đổi với môi trường bên ngòai. Khởi hành từ transferritin khi đến tủy xương sẽ nhường sắt cho nguyên hồng cầu để tổng hợp Hb. Hồng cầu sau đời sống sinh l khoảng 120 ngày sẽ bị đại thực bào tiêu hủy, sắt phóng thích ra sẽ được transferrin giữ lại; chu trình từ đây tíếp tục trở lại.Ở trạng thái bình thường , lượng sắt cần thiết để tạo hồng cầu mới bằng chính lượng sắt xuất ra từ hiện tượng tiêu huyết sinh lí.

Sắt được dự trữ dưới dạng Ferritin ở võng nội mô, nhất là ở gan, lách, tủy xương được trao đổi thường xuyên với huyết tương, do đó có thể huy động dễ dàng khi cần thiết .Một dạng dự trữ khác của sắt là Hemosiderin có thể huy động được nhưng rất chậm.

Lượng sắt hấp thu vào cơ thể và lượng thải ra rất ít, chỉ khoảng 1/10 lượng sắt của hiện tượng tạo máu , 1/1000 lượng Fe của Hb lưu hành . Thăng bằng sắt của cơ thể được duy trì nhờ cân đối nhập và thải sắt. Con người không có khả năng tự thải sắt, sự cân bằng sắt là nhờ điều chỉnh sắt hấp thu qua ruột. Khi dự trữ sắt giảm thấp thì lượng hấp thu tăng; trái lại, nếu ứ đọng sắt nhiều thì lượng sắt hấp thu sẽ giảm hẳn.

 

2.2 .Các giai đọan của chuyển hóa sắt :

2.2.1 Cung cấp chất sắt :

        - Thực phẩm là nguồn cung cấp Fe duy nhất. Chỉ có một một số ít cần cung cấp Fe qua thuốc.

        Thức ăn giàu sắt gồm: gan, thịt, cá , huyết phẩm, trứng, chocolate, trái cây khô. Bình thường lượng Fe hấp thu qua ruột khoảng 10-20% lượng Fe ăn vào, hàng ngày lượng Fe ăn vào qua thức ăn khoảng 10mg, nhưng lượng Fe hấp thu vào khoảng 1-2mg/ngày. Tỉ lệ hấp thu này tùy theo từng loại thức ăn :

Bảng 3 . Tỉ lệ Fe hấp thu theo mỗi loại thực phẩm :

Loại thức ăn                       Tỉ lệ Fe hấp thu (%)

 - Gạo                                0-2

- Đậu                                2-3

- Bắp                                 3-4

- Đậu nành                        6-10

- Sữa động vật           4-5

- Jambon, chả, xúc xích       10-15

- Cá                          10-15

- Gan                                > 20

- Cơ, thịt nạt                      > 20

* Thức ăn mang Fe dạng heme : Hb, Myo…. Tỉ lệ hấp thu cao

* Thức ăn mang Fe không heme : rau, trứng , đậu …hấp thu ít hơn

Kết luận : Thức ăn nguồn gốc động vật : gan, thịt, cá tôm… cung cấp lượng Fe cao hơn các thực phẫm từ nguồn gốc thực vật như rau, qủa và sữa…

 

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến độ hấp thu của Fe :

- Có 2 yếu tố ảnh hưởng độ hấp thu của sắt :

        + Thành phần các loại thức ăn trong bửa ăn : ăn nhiều thịt cá sẽ nhiều Fe hơn ăn lạt ( ăn chay )

        + Phương pháp chế biến thức ăn : Nấu, chiên, xào, luộc kỹ sẽ làm mất Vitamin C sẽ làm giảm bớt hấp thu Fe. Uống trà, mang nhiều tannate, cũng làm giảm hấp thu Fe.

Bảng 4 : Các chất làm biến đổi hấp thu Fe

 

TĂNG           vitamin C        đường         acid citric

                                              sữa mẹ        acid succinic

 

GIẢM            phosphat         trà               Tétracyline

                      phytat              sữa bò         các chất chélat-hóa

Sữa bò, loại sữa tạm thay sữa mẹ cho những trường hợp mẹ không đủ sữa cho con bú, chứa một số protein làm ngăn cản sự hấp thu Fe ở người; do vậy , cho con bú sữa bột nguồn gốc từ bò thời gian dài sẽ gây thiếu Fe cho trẻ. Sữa mẹ, ngược lại có tác dụng giúp hấp thu Fe rất tốt.

2.2.3 - Hấp thu chất sắt :

Thức ăn vào dạ dày, dưới tác dụng của pepsin trong dịch vị, Fe được tách ra. Vào đến ruột, phần Fe dạng hóa trị 2, sắt nhị Fe++, mới được hấp thu; dạng sắt tam Fe +++ không hấp thu được; phần Fe không hấp thu sẽ theo phân thải ra ngoài. Qua ruột xong, Fe được kết với transferrin. Tỷ lệ Fe hấp thu tùy thuộc vào độ bảo hòa của transferrin. Nếu transferrin kém bão hòa độ hấp thu sẽ cao; trái lại, nếu transferrin bão hòa cao, tỷ lệ Fe hấp thu sẽ thấp. Trên thực tế ngay cả ở trên người bệnh thiếu Fe nặng lượng Fe hấp thu chỉ khoảng 3,5 đến 5mg mỗi ngày.

2.2.4 - Mất chất sắt :

Bình thường ở người lớn, lượng Fe nhập bắng đúng lượng Fe mỗi ngày. Fe mất qua: mồ hôi, tróc tế bào, nước tiểu, râu lông tóc móng, phân, kinh nguyệt, chảy máu (hiến máu), có thai (Fe từ người mẹ chuyển qua thai), sữa cho con bú.

Tình huống cho con bú sữa mẹ, lượng Fe qua sữa khoảng 1mg/ngày nhưng không gây thiếu Fe nếu người mẹ ăn uống đủ, vì trong thời gian cho con bú người mẹ không ra kinh “ tiết kiệm” (!) được lượng Fe dành để tiết Fe qua sữa.

 

- Chỉ định bổ sung sắt? Các dấu hiệu định hướng cho bổ sung sắt? Làm thế nào biết mình cần bổ sung sắt?

       

-              Thiếu sắt sẽ dẫn đến những rối lọan hệ thống như trên, tuy nhiên nếu dư sắt cũng sẽ tổn thương rất nặng đến các cơ quan trọng yếu của cơ thể . Vì vậy chỉ định bổ sung sắt cần phài được xác định có chắc chắn thiếu sắt không và phải do bác sĩ chỉ định để bổ sung sắt .

-              Triệu chứng lâm sàng của thiếu sắt

o       Rất thường khi thiếu máu - thiếu sắt diễn ra lặng lẽ, không có triệu chứng lâm sàng hoặc vì người ta không chú ý hay do có một bệnh khác cần tập trung điều trị hơn.

o       Thiếu máu - thiếu sắt nhẹ có thể biểu hiện qua các triệu chứng mệt mỏi, yếu, hay gắt gỏng, nhức đầu nhẹ và hơi thở ngắn. Khi khám có thể thấy da, niêm mạc, móng tay đều nhợt nhạt.

o       Thiếu máu - thiếu sắt nặng hơn có thể làm cho các gai lưỡi bị teo, hay lở luỡi. Ngoài ra, còn có thể có nhiều triệu chứng khác như ăn mất ngon, đau rát trước ngực, đầy hơi, nôn ói và táo bón. Thiếu máu làm cho năng suất và chất lượng lao động kém đi.. Thiếu máu - thiếu sắt nặng có thể đưa đến tim to và suy tim ứ huyết. Có khi lách cũng to.

o       Đối với phụ nữ mang thai, thiếu máu - thiếu sắt nặng làm tăng tỷ lệ tai biến và tử vong cho mẹ và sơ sinh vì gây trở ngại cho khả năng của hệ thống miễn dịch chống lại nhiễm trùng. Bà mẹ mang thai thiếu máu - thiếu sắt tăng cân không đủ trong thai kỳ, tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu, viêm đài bể thận, tiền sản giật, gia tăng gấp 3 lần tỷ lệ sinh non, tăng tỷ lệ mổ lấy thai và biến chứng hậu sản.

o       Sơ sinh của bà mẹ thiếu máu - thiếu sắt không bị chết trong tử cung, nhưng chết vì nguyên nhân khác. Người ta thấy rằng, thiếu máu và thiếu sắt làm cho cơ thể dễ bị nhiễm trùng. Đứa trẻ lớn lên sẽ bị bất thường trong phát triển nhân cách, bất thường trong phát triển thể lực và trí thông minh nên học kém.

-         Khi phát hiện có các triệu chứng trên, bạn cần nên đến khám các bác sĩ đa khoa , hoặc chuyên khoa để được tư vấn , thăm khám và xét nghiệm máu:

Bạn sẽ được xác định :

§        Có thiếu máu không ?

§        Thiếu máu do nguyên nhân nào? Có phải do thiếu sắt không ?

§        Nguyên nhân nào dẫn đến thiếu sắt ?

§        Đã có các biến chứng nào khác do thiếu sắt gây nên không ?

§        Lập kế họach điều trị cho bạn , không nên tự bổ sung sắt

 

 

2. Bổ sung sắt (điều trị): bổ sung thuốc gì? Loại sắt bổ sung? Loại nào hấp thu tốt trên thị trường hiện nay? Làm sao biết để tìm mua? Có loại đặc biệt cho trẻ em? phụ nữ mang thai? người già? Giải pháp nào để cải thiện sự hấp thu, tăng dung nạp sắt khi dùng thuốc?Phác đồ bổ sung sắt qua đường uống thuốc?

 

-         Tùy theo mức độ của thiếu sắt mà người bác sĩ sẽ đưa ra quyết định bổ sung sắt. Tuy nhiên, khi phát hiện có dấu hiệu thiếu sắt, nhất là thiếu máu thiếu sắt thì hầu hết nguồn dự trữ sắt đã cạn kiệt , vì thế đa số các trường hợp cần tiến hành bổ sung sắt .

-         Các bước điều trị bổ sung sắt :

Cần xác định được nguyên nhân dẫ đến thiếu sắt, và điều trị loại bỏ nguyên nhân là bước điều trị quan trọng nhất .Điều trị bổ sung sắt : có 2 dạng thuốc sắt bổ sung : dạng thuốc uống và dạng tiêm bắp, tiêm truyền tĩnh mạch.Theo dõi đáp ứng lâm sàng và định lượng sắt để tránh biến chứng dư sắt

-         Sắt dạng uống : thường được sử dụng trong điều trị thiếu sắt

§        Sản phẩm :

·        Sắt hòa tan  (gluconate sắt, ascorbate sắt, lactate sắt, succinate sắt, fumarate sắt, sulfate sắt ).. Thị trường thường gặp là dạng : gluconate sắt , sulfate sắt và fumarate sắt , các loại này dễ hấp thu và ít tác dụng phụ .

·        Sắt kết hợp các loại thuốc khác acid folic, B12, B9 : chỉ định các trường hợp do thiếu nhiều yếu tố, suy dinh dưỡng, thai kỳ, tăng nhu cầu do phát triển

§        Liều lượng : 1.5mg-2mg/kg nguyên tố sắt mỗi ngày , chia 3 lần trong ngày.

§        Tác dụng phụ : buồn nôn, nôn, chướng bụng, đầy hơi, tiêu chảy, phân có màu đen, răng đổi màu tạm thời

§        Thời gian dùng : từ 3à 6 tháng, ít nhất là 3 tháng, việc ngưng bổ sung sắt là do bác sĩ quyết định.

- Sắt dạng tiêm bắp (dextran –sắt ), sắt truyền tĩnh mạch ( sodium gluconate sắt) : được chỉ định khi dùng đường uống không hiệu quả hoặc không dung nạp được do quá nhiều tác dụng phụ , do các bệnh lí rối lọan hấp thu, hoặc suy thận mà cần chạy thận nhân tạo.

- Trên thị trường hiện nay có nhiều loại viên sắt thích hợp cho từng nhóm tuổi khác nhau :

Trẻ em : nn dng loại Fumarate sắt ( Ferrovit, Fumafer –B9 corbiere ) : dạng thuốc sắt kết hợp với cc yếu tố vi lượng khc. Thuốc dễ hấp thu, 鹬t tc dụng phụ trn đường tiu hĩa.



Người viết: TS Huỳnh Nghĩa
Bệnh viện Truyền máu- Huyết học , TP. Hồ Chí Minh
Lượt xem: 71
 
       

       
 
Các tin cùng chủ đề:
   
 
   
     
     
       

     
Số lượt truy cập: